Tài nguyên dạy học

Đọc báo dùm bạn

Ảnh ngẫu nhiên

IMG_9158_1.jpg IMG_9157_1.jpg IMG_9125_1.jpg Dem_dong_loan.swf DSC04395.jpg DSC04493.jpg DSC04489.jpg DSC04487.jpg DSC04467.jpg Khuc_nhac_Noel.swf Dem_qua_nho_ban1.swf Thien_nguyen_viole.swf DSC011842.jpg DSC011871.jpg DSC011821.jpg Chuc_2013_Quang_loan.swf Loan_dem_giang_sinh_2012.swf LOAN_HA_NOI.swf DSCN0756.jpg Nguoi_thay.swf

Từ điển online


Tra theo từ điển:



Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Tin tức giáo dục >

    BÀI DỰ THI: EM YÊU LỊCH SỬ VIỆT NAM

    BÀI DỰ THI: EM YÊU LỊCH SỬ VIỆT NAM

    Câu 1: Ngày 6 - 12 - 2012, UNESCO đã chính thức công nhận một tín ngưỡng ở Việt N am là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Anh (chị) hãy cho biết đó là tín ngưỡng gì? Nêu những điều mà anh (chị) tâm đắc nhất về thời đại là nguồn gốc hình thành nên tín ngưỡng đó. Trả lời: Ngày 6 - 12 - 2012, UNESCO đã chính thức công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ-Việt Nam là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. * Những điều tâm đắc nhất của em về thời đại Hùng Vương: Truyền thuyết kể rằng: Âu Cơ lấy Lạc Long Quân được một thời gian thì sinh ra Bọc trăm trứng, trứng nở ra 100 người con trai. Khi các con khôn lớn, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: “Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Nay ta đem năm mươi con về miền biển, còn nàng đem năm mươi con về miền núi, chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi, người xuống biển, nếu gặp sự nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau, đừng có quên”. Hai người từ biệt nhau, trăm người con tỏa đi các nơi, trăm người đó trở thành tổ tiên của người Bách Việt. Người con trưởng ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang lấy hiệu là Hùng Vương. Vua Hùng chia ra làm mười lăm bộ, đặt tướng văn, võ gọi là lạc hầu, lạc tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương. Ngôi vua đời đời gọi chung một danh hiệu là Hùng Vương. Là tổ tiên của dân tộc Việt cùng sinh ra từ một bọc trăm trứng sâu nặng tình nghĩa anh em một nhà. Như vậy, nhân dân Việt Nam thờ chung một vị Vua Tổ, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn"; "Ăn quả nhớ người trồng cây" thuỷ chung son sắt là điều em tâm đắc nhất mà thế hệ tiền nhân đã gửi lại cho hậu thế hôm nay và cả mai sau. Câu 2: Anh (chị) hãy nêu cảm nhận của mình về một sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Trả lời: Cách mạng tháng 8 (19/8/1945) thành công là một sự kiện lịch sử trọng đại nhất của dân tộc Việt Nam. Em sinh ra trong thời kỳ hoà bình độc lập, nhưng em hiểu rất rõ với cuộc sống mưu sinh hằng ngày đã lắm vất vả, khó khăn huống hồ gì chiến đấu giành lại tự do, độc lập cho dân tộc, cho đất nước còn khó khăn, gian khổ gấp bội phần. Theo sách sử ghi lại rằng: Vào thời khắc lịch sử đó Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn thể đồng bào ta hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 20 triệu nhân dân ta từ Bắc đến Nam đã tiến hành cuốc tổng khởi nghĩa cách mạng tháng tám thành công. Cuộc mít tinh phát động khởi nghĩa giành chính quyền do Mặt trận Việt Minh tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội ngày 19/8/1945. Cuộc khởi nghĩa bắt đầu từ 14/8, một ngày sau khi Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc. Từ ngày 14 đến 18, tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi ở nông thôn đồng bằng miền Bắc, đại bộ phận miền Trung, một phần miền Nam và các thị xã Bắc Gian g, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Hội An. Ngày 17/8, ở Hà Nội, tổng hội viên chức chính quyền bù nhìn tổ chức một cuộc mit tinh lớn tại Quảng trường nhà hát thành phố, có hàng vạn người tham gia để ủng hộ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Sáng ngày 19/8, theo lời kêu gọi của Việt Minh, cả Hà Nội vùng dậy dưới rừng cờ đỏ sao vàng xuống đường tiến thẳng về trung tâm Nhà hát thà nh phố để dự mit tinh. Cuộc mit tinh diễn ra vào ngày 19/8/1945. Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến Quân Ca, đại biểu uỷ ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu của Việt Minh. Cuộc mittinh trở thành cuộc biểu tình vũ trang tiến vào chiếm phủ khâm sứ, trại lính bảo an và các cơ sở của chính phủ bù nhìn. Từ Hà Nội, làn sóng cách mạng toả đi khắp nơi, cả nước vùng dậy đấu tranh giành chính quyền và liên tiếp giành thắng lợi. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Cách mạng tháng tám là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam chúng ta phải rèn đức luyện tài, sống chiến đấu, học tập để xây dựng và bảo vệ những gì cha ông ta đã đánh đổi bao mồ hôi, nước mắt và cả xương máu mới có được ngày hôm nay. Hoặc: Trả lời: Trong tất cả các sự kiện lịch sử của dân tộc mà em đã được học và đọc thì sự kiện lịch sử hay mốc son lịch sử nào cũng quang trọng và trọng đại, sau đây là cảm nhận của em về một trong những sự kiện lịch sử trọng đại ấy. Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954) là một sự kiện lịch sử lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Tuy em sinh ra đã được sống trong một thế giới hòa bình nhưng em biết rất rõ cuộc sống gian nan, vất vả của các người anh hùng đã hi sinh cả tính mạng mình để chiến đấu giành lại độc lập cho đất nước thì chúng em mới có ngày hôm nay. Lịch sử đã ghi rằng: Mùa đông năm 1953, tại chiến khu Việt Bắc, Trung ương Đảng và Bác Hồ đã họp, nêu quyết tâm giành thắng lợi trong chiến dịch Điện Biên Phủ để kết thúc cuộc kháng chiến. Để chuẩn bị cho chiến dịch lịch sử này, cả tiền tuyến và hậu phương đều sẵn sàng với tinh thần cao nhất. Khoảng năm vạn rưởi chiến sĩ từ các mặt trận hành quân về Điện Biên Phủ, hàng vạn tấn vũ khí được vận chuyển vào trận địa. Gần ba vạn người từ hậu phương tham gia vận chuyển lương thực, thực phẩm, áo quần, thuốc men… lên Điện Biên Phủ. Từ ngày 13-17/3/1954, quân ta mở đợt tấn công thứ nhất tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. 7giờ 30 ngày 30/4/1954, ta mở đợt tấn công thứ 2. Cuộc chiến trên đồi A1 diễn ra hết sức gay go, ác liệt. Hai bên giằng co từng tất đất. Đến ngày 04/4/1954 mỗi bên chiếm giữ một nửa đồi A1. Đêm 01/5/1954 ta mở đợt tấn công thứ 3, quân ta đánh chiếm các cứ điểm còn lại phía Đông và phía Tây, bẻ gãy cuộc phản kích của địch. Đêm 03/5/1954, bộ đội ta chỉ cách sở chỉ huy của địch 300m. Đêm 06/5/1954 tại đồi A1, quân ta ồ ạt xông lên tiêu diệt các lô cốt và dùng bộc phá ngàn cân phá tan thế cầm cự của quân địch. 17giờ 30 ngày 07/5/1954 , những trận pháo kích của bộ đội ta nhắm thẳng vào sở chỉ huy địch. Tướng Đờ-Ca-xtơ-ri và toàn bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm của địch bị bắt sống. Gần 1 vạn quân địch nhảy ra khỏi hầm xin hàng. Lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” tung bay trên nóc hầm chỉ huy của giặt Pháp. Đêm đó ta tấn công bắt sống toàn bộ quân địch ở phân khu Nam. Sau “56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non” chiến đấu cực kỳ anh dũng, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng. Ta tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, bắn rơi và phá huỷ 62 máy bay, thu toàn bộ vũ khí, kho xăng, đạn dược, quân trang quân dụng. Chiến thắng Điện Biên Phủ là thành quả của 9 năm kháng chiến anh dũng đầy gian khổ hy sinh, là thắng lợi của sức mạnh đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, khát vọng hòa bình, ý chí độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân; cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội của các nước thuộc địa trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, toàn thể thanh niên Việt Nam chúng ta phải rèn đức luyện tài, sống chiến đấu, học tập để xây dựng và bảo vệ những gì cha ông ta đã đánh đổi bao mồ hôi, nước mắt và cả xương máu mới có được ngày hôm nay. Câu 3: Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, anh (chị) yêu thích nhất nhân vật lịch sử nào? Vì sao? Hãy trình bày hiểu biết của anh (chị) về nhân vật đó. Trả lời: Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, em yêu thích nhất là Bác Hồ, bởi vì: Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng! Bác Hồ tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung. Bác sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho, nguồn gốc nông dân, ở làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là Bác là cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan. Với tinh thần yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, sự nhạy bén về chính trị, Người đã bắt đầu suy nghĩ về những nguyên nhân thành bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ và quyết tâm ra đi tìm con đường để cứu dân, cứu nước vào ngày 05 tháng 06 năm 1911. Sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đến tháng 7/1920, Bác đọc tác phẩm của V.I. Lênin: Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, đăng trên báo L'Humanité, số ra ngày 16 và 17-7-1920. Người đã nói: "Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Bác Hồ với thiếu nhi. Ngày 3/2/1930, tại Cửu Long (Hồng Kông), Người triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản trong nước, thống nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 2/9/1945, Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập trước nhân dân cả nước và nhân dân toàn thế giới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước Công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Ngày 2/9/1969, Bác từ trần, hưởng thọ 79 tuổi. Chuyện kể về Bác thì có rất nhiều nhưng em thích nhất là chuyện “Quả táo của Bác Hồ”. Qua câu chuyện này chứng tỏ rằng Bác rất quan tâm đến thế hệ chúng em, thế hệ tương lai của đất nước. Cuộc đời của Bác là một cuộc đời trong sáng cao đẹp của một người cộng sản vĩ đại, một anh hùng dân tộc kiệt xuất, một chiến sĩ quốc tế lỗi lạc, đã đấu tranh không mệt mỏi và hiến dâng cả đời mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, vì độc lập, tự do của các dân tộc, vì hòa bình và công lý trên thế giới. Cuộc họp lần thứ 24, năm 1987 tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của liên hợp quốc UNESCO ra nghị quyết về kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh "Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là một nhà văn hóa lớn". Hoặc: Trả lời: Trong muôn vàn nhân vật lịch sử của dân tộc Việt Nam, mỗi người có những đóng góp riêng – những đóng góp đó vô cùng to lớn để hình thành nên một đất nước Việt Nam giàu đẹp. Với riêng em nhân vật lịch sử mà em yêu thích nhất là Bác Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bởi vì nhờ có sự lãnh đạo thông minh, sáng suốt của Đại tướng mà quân và dân ta đã giành được chiến thắng vang dội Điện Biên Phủ năm 1954. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi ông đang thể hiện niềm tin chiến thắng Bức ảnh do phóng viên ảnh Bettman chụp ở Hà Nội ngày 29/5/1969 Võ Nguyên Giáp (sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911) là một nhà chỉ huy quân sự và nhà hoạt động chính trị Việt Nam. Là đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông chỉ huy chính trong chiến tranh Đông Dương (1946–1954) và chiến tranh Việt Nam (1960–1975). Ông tham gia vào nhiều chiến dịch quan trọng như Chiến dịch Biên giới Thu Đông (1950), Trận Điện Biên Phủ (1954), Chiến dịch Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông là nhà chỉ huy quân sự nổi bật nhất bên cạnh Hồ Chí Minh trong suốt cuộc chiến và lãnh đạo nhiều chiến dịch lớn cho đến khi chiến tranh kết thúc. Ông từng là một giáo viên dạy sử, nhà báo và từng giữ các chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, Phó thủ tướng phụ trách khoa học và kỹ thuật kiêm công tác khoa giáo, Chủ tịch Danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Chủ tịch Danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch, Chủ tịch Danh dự Hội Khuyến học Việt Nam, Chủ tịch Danh dự Quỹ hỗ trợ sáng tạo khoa học kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC), Chủ tịch Danh dự Hội Cựu giáo chức Việt Nam. Cả cuộc đời Đại tướng đã cống hiến hết mình vì nước, vì dân, vì độc lập dân tộc, không màng danh lợi. Đại tướng từng nói: "Tôi đã cống hiến một cách tự nguyện, đã thanh thản trong mọi thử thách, thế là tôi sống vui, sống lâu... Như vậy, tôi đã làm theo lời dạy và noi theo tấm gương của Bác Hồ là “Dĩ công vi thượng”. Tôi nhận nhiệm vụ và tôi hoàn thành nhiệm vụ. Ngay cả việc phụ trách công tác sinh đẻ có kế hoạch… cũng là nhiệm vụ". Đại tướng thật xứng đáng là một “Thánh Gióng” thời hiện đại. Đại tướng qua đời vào lúc 18giờ 09 phút ngày 04 tháng 10 năm 2013, tại bệnh viện quân y 108, hưởng thọ 103 tuổi. Đại tướng ra đi để lại cho nhân dân Việt Nam sự tiếc thương vô vàn. Linh cữu Đại tướng được an táng tại Vũng Chùa - Đảo Yến (thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình). Câu 4: Ở tỉnh, thành phố quê hương anh (chị) có những di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) tiêu biểu nào? Anh (chị) hãy giới thiệu về một di sản văn hóa của quê hương mà anh (chị) ấn tượng nhất. Theo anh (chị), cần phải làm gì để bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa đó? Trả lời: Do nằm ở nơi giao thoa văn hóa của nhiều vùng miền cả nước, bản sắc văn hoá của Kiên Giang cũng vì thế mà rất phong phú, đa dạng, thể hiện qua các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, ẩm thực, lễ hội, làng nghề truyền thống ... Theo thống kê trên địa bàn tỉnh Kiên Giang có 49 di tích lịch sử. Trong đó một số di tích nổi bật có thể kể tới như chùa Tam Bảo, khu di tích cách mạng Hòn Đất, khu di tích căn cứ địa U Minh Thượng, Nhà tù Phú Quốc, chùa Bà Thiên Hậu, Miếu Quan Thánh Đế … Nhà tù Phú Quốc - một trong những di tích nổi bật tại Kiên Giang Di sản văn hóa vật thể : Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang Di sản văn hóa phi vật thể: Đờn ca tài tử, Rô băm Di tích lịch sử Đình thờ Nguyễn Trung Trực Đình thờ Nguyễn Trung Trực tại Tp.Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia theo Quyết định số 191 ngày 22/3/1988. Là một ngôi đình khang trang ở phía Tây của trung tâm thành phố Rạch Giá cách cửa biển khoảng 100m. Tuy ngắn ngủi nhưng cuộc đời Nguyễn Trung Trực đã hóa thành những trang sử chói lọi trong lịch sử dân tộc cũng như trong truyền thuyết Việt Nam. Những truyền thuyết ấy nảy sinh từ những địa phương mà Nguyễn Trung Trực đã từng đánh giặc và từng sống như Long An, Kiên Giang. Ông đã để lại cho hậu thế với hai chiến công oai hùng nhất: - Ngày 10/12/1861 đốt tàu Espérence trên sông Nhật Tảo. - 4h sáng ngày 16/6/1868, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân kết hợp với nội ứng tấn công đồn Kiên Giang, triệt hạ đồn hoàn toàn, tên Pháp đầu tỉnh cùng đồng bọn phải đền tội. Sau những chiến công vang dội, giặc Pháp điên cuồng truy sát Ông cùng nghĩa quân. Nguyễn Trung Trực đã cùng nghĩa quân rút ra đảo Phú Quốc lập căn cứ kháng chiến lâu dài. Sau nhiều trận chiến đấu ác liệt, ngày 19/9/1868 Ông đã bị giặc bắt. Dù bị tù đày, tra tấn, Ông vẫn hiên ngang với khí phách của người Anh hùng. Ngày 27/10/1868, thực dân Pháp đưa Ông ra pháp trường Rạch Giá (nay là bưu điện Rạch Giá). Đồng bào Tà Niên đã dệt và trải chiếu bông kín con đường Ông ra pháp trường. Người dân hết sức đau đớn, yêu thương, kính trọng tiễn đưa Ông. Dù mất đi nhưng danh thơm của Nguyễn Trung Trực mãi mãi trường tồn cùng lịch sử với câu nói được coi là chân lý: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”. Để mãi tưởng nhớ đến công lao của vị AHDT, nhân dân Kiên Giang đã lập đình thờ Ông. Hàng năm, vào ngày 26-28/8 âm lịch, hàng trăm ngàn đồng bào các nơi về Kiên Giang dự lễ giỗ của Ông. Một nét đẹp dễ nhận thấy ở lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực là sự đa sắc tộc, đa tín ngưỡng và đa tôn giáo, đến tham gia Lễ hội Nguyễn Trung Trực, người dân ai cũng cảm thấy hồ hỡi, rạo rực như quên hết những âu lo, cực nhọc thường ngày, hòa nhập vào không khí thiêng liêng của Lễ, náo nhiệt của Hội…qua đó thể hiện lòng biết ơn của mình với tiền nhân, những người có công với làng xã, quê hương, đất nước và thể hiện tinh thần gắn bó cộng đồng, hướng đến những ước mơ tốt đẹp. Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể Lễ hội Dinh Cô: Trước hết là việc trùng tu, tôn tạo di tích trong những năm gần đây đã được các cấp chính quyền chú trọng, quan tâm. Tuy nhiên, việc trùng tu tôn tạo cần được nghiên cứu, thực hiện theo các qui định nghiêm ngặt của Nhà nước, tránh làm tùy tiện gây biến dạng di tích và hao tốn tiền của của nhân dân đó, việc tuyên truyền, giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ di tích cho nhân dân và du khách thập phương cũng là việc làm cần thực hiện thường xuyên và liên tục để góp phần làm cho di tích của chúng ta mãi mãi bền vững với thời gian. Câu 5: “Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Anh (chị) hãy cho biết hai câu thơ trên là của ai. Nêu ý nghĩa của hai câu thơ đó. Theo anh (chị), cần phải làm gì để người học yêu thích môn Lịch sử? Trả lời: Hai câu thơ trên là của Bác Hồ. Ý nghĩa là: Bác Hồ dạy chúng ta phải học, phải hiểu, phải biết cho tường tận, cụ thể gốc tích lịch sử nước nhà Việt Nam. Đây không chỉ là lời kêu gọi mà còn là yêu cầu của Bác với toàn thể nhân dân Việt Nam mà cốt lõi là Bộ Giáo Dục và Đào Tạo phải có quyết định rõ ràng làm cho toàn thể nhân dân Việt Nam mà đặc biệt là thế hệ học sinh phải hiểu rõ được lịch sử Việt Nam, bởi lẽ lịch sử là những gì thuộc về quá khứ nếu không có quá khứ sẽ không có hiện tại và tương lai. “Biết” quá khứ để rút kinh nghiệm mà vận dụng cho hiện tại và tương lai. Để người học yêu thích môn lịch sử thì trước hết: Người dạy phải là người yêu thích lịch sử. - Dạy lịch sử cần phải liên hệ với thực tế những địa danh trong lịch sử đó bây giờ ở đâu? Tên gọi đã thay đổi như thế nào? Những vật dụng thời xa xưa thay đổi như thế nào qua thời gian? Nếu có hình ảnh minh hoạ trực quan thì càng tốt. - Người dạy phải hướng người học vào câu chuyện lịch sử, dẫn giải từng bước giống như một đoạn phim ngắn trong một tập phim dài, luôn làm cho người học háo hức chờ đợi đến hồi kế tiếp. Và cuối cùng là đưa môn lịch sử vào môn thi chính. Hoặc: Nghĩ về lời Bác dạy: “Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” Dân tộc Việt Nam có một lịch sử lâu đời với nhiều thành tựu và chiến công huy hoàng rất đáng tự hào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc thân yêu của mình. Lịch sử dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đến nay là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nội dung lịch sử dân tộc ta thật vô cùng rộng lớn, phong phú bao gồm các mặt hoạt động khác nhau (kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội …) của xã hội và con người Việt Nam trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Dân ta phải biết sử ta Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” “Biết sử ta” không phải chỉ đơn thuần là ghi nhớ một số sự kiện, một vài chiến công nói lên tiến trình đi lên của dân tộc hay ghi nhớ công lao của một số người làm nên sự nghiệp to lớn đó, mà còn phải biết tìm hiểu “cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”, tiếp nhận những nét đẹp của đạo đức, của đạo lý làm người Việt Nam. Vì chính đó là gốc của mọi sự nghiệp lớn hay nhỏ của dân tộc, không phải chỉ ở thời xưa mà ở cả ngày nay và mai sau. Hơn thế nữa, đất nước đang bước vào thời kỳ xây dựng mới, thời kỳ của CHH – HĐH theo định hướng XHCN, đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải có một sự hiểu biết đầy đủ hơn, mới mẻ hơn về toàn bộ lịch sử dân tộc theo tinh thần “ôn cố tri tân”, lấy xưa phục nay. Lịch sử là “cô giáo của cuộc sống”, là “bó đuốc soi đường đi tới tương lai”. Vì vậy, tìm hiểu, nghiên cứu và nắm vững tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, của nền văn hoá Việt Nam không chỉ là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người hiện nay mà còn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Nắm vững lịch sử dân tộc ta không chỉ có được những hiểu biết về tổ tiên, đất nước, dân tộc mình trong việc xây dựng “non sông gấm vóc như ngày nay” mà còn góp phần bồi dưỡng tình yêu ông bà, cha mẹ, yêu quê hương đất nước và lòng tự hào dân tộc. Có biết được quá trình đấu tranh dựng và giữ nước đầy máu và nước mắt của ông cha mới biết ơn, kính trọng những thế hệ đi trước và nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc. Có hiểu được tường tận lịch sử dân tộc và mới hiểu được giá trị của cuộc sống và mới có cái nhìn đúng đắn về cuộc sống hiện tại, đặt cơ sở cho sự phát triển tương lai. Tuy nhiên, hiện nay việc dạy và học lịch sử ở trường phổ thông nói chung còn nhiều thiếu sót về nhận thức bộ môn, về nội dung, phương pháp dạy học, về những phương tiện cần thiết cho việc giáo dục. Do đó, chât lượng dạy học và thi Đại học môn lịch sử giảm sút đến mức báo động. Tình trạng “mù lịch sử” khá phổ biến. Đó là tình trạng không biết lịch sử, không hiểu lịch sử, nhớ sai, không ham thích, không hứng thú học lịch sử … Làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử trong nhà trường hiện nay? Câu hỏi được cả xã hội đặt ra và đang từng bước được giải quyết. Song, theo tôi nghĩ, trách nhiệm đâu phải chỉ của nhà trường, của giáo viên nói chung, của thầy cô giáo dạy môn lịch sử nói riêng mà điều cốt yếu trước hết là mỗi người chúng ta cần có khát khao nghiền ngẫm sử cũ để học được những điều bổ ích từ cuộc sống sinh động của tổ tiên ta xưa mà giáo dục cho con cháu. Bởi, tổ tiên ta lẽ đâu chỉ giỏi đánh giặc, còn tư tưởng, đạo đức, triết lý … và biết bao vấn đề cuộc sống mà ta chưa biết đến.

    Sưu tầm


    Nhắn tin cho tác giả
    Đinh Ngân Thanh @ 14:37 21/09/2014
    Số lượt xem: 540
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    TRUYỀN THỐNG TRƯỜNG THCS TÂN HIỆP A5

    Chương trình giới thiệu sách 2015